Chúa Nhật, 03.01.2021. Lễ Chúa Hiển Linh. Tuy nhiên nhiều người vẫn quen gọi là lễ Ba vua? Danh xưng nào chính xác hơn?
Nếu chỉ phân tích từ ngữ Hán Việt, thì
quả thực là khó nói. “Hiển linh” là gì? Trong Từ điển tiếng Việt do Viện Ngôn
Ngữ học xuất bản, “Hiển linh” (động từ) được định nghĩa là: “thần thánh tỏ rõ
sự linh thiêng, theo mê tín”. Từ điển Việt Nam do ông Thanh Nghị xuất bản năm
1958 cho rằng “hiển linh” là tĩnh từ, có nghĩa là: “linh thiêng, rõ ràng”. Xem
ra đó cũng là ý kiến của ông Lê Thanh, tác giả cuốn Tiếng nói nôm na (1999):
hiển linh là “rất linh thiêng, thiêng liêng lộ rõ ra bằng sự thật”. Dù hiểu
“hiển linh” như động từ hay tính từ đi nữa, thì chẳng qua cũng là dịch bởi danh
từ gốc Hy-lạp epiphania, có nghĩa là sự “hiện ra, bày tỏ”. Tân ước dùng từ này
để nói đến việc Thiên Chúa đã xuất hiện (tỏ lộ, mặc khải) cho nhân loại ở nơi
đức Giêsu (Lc 1,79; Tt 2,11; 3,4), hoặc là việc Đức Kitô sẽ xuất hiện trong
vinh quang ngày tận thế (2Tm 4,8; Tt 2,13). Phụng vụ (cách riêng là bên Đông
phương) nói đến ba cuộc tỏ hiện của Chúa Giêsu: thứ nhất cho các đạo sĩ; thứ
hai tại sông Hoà giang; thứ ba tại tiệc cưới Cana. Dù ba biến cố cách xa nhau
hơn 30 năm trường, nhưng đều nhằm bày tỏ thiên tính của Đức Giêsu, đặc biệt vào
chặng đầu của mầu nhiệm Nhập thể. Cả ba biến cố đều được ghi lại trong Phúc âm,
và được tóm lại trong Điệp ca Magnificat Kinh chiều lễ Hiển linh.
Thế
còn tại sao gọi là lễ Ba Vua?
Như vừa nói, trong lễ Hiển linh (
epiphania ), phụng vụ mừng ba biến cố mà Chúa Giêsu xuất hiện cho nhân loại.
Tuy nhiên, biến cố thứ nhất (nghĩa là tỏ hiện cho các đạo sĩ) thu hút sự chú ý
của dân gian hơn, bởi vì gắn liền với lễ Giáng sinh, mang theo hình ảnh của hài
nhi Giêsu sinh ra tại hang đá Bê-lem. Bên cạnh tượng Thánh nhi nằm trong máng
cỏ giữa con bò và con lừa, người ta đặt tượng Đức Mẹ, thánh Giuse; xa hơn chút
nữa là các mục đồng được các thiên thần gọi đến hang đá. Mãi hơn 10 ngày sau,
người ta mới thêm một tốp nữa gồm có ba vua từ phương xa đến thờ lạy Chúa, mang
theo lễ phẩm là vàng, nhũ hương, mộc dược. Vì thế gọi là “lễ ba vua”.
Ba
ông là Vua của những nước nào vậy?
Chúng ta cần phải phân biệt đâu là nền
tảng Kinh thánh, và đâu là truyền kỳ dân gian. Bản văn Tin mừng theo thánh
Matthêu 2,1 nói rằng: “Khi Đức Giêsu ra đời tại Bê- lem, miền Giuđê, thời vua
Hêrôđê trị vì, có mấy nhà chiêm tinh từ phương Đông đến Giêrusalem”. Bản văn
nói đến các nhà “chiêm tinh” chứ không phải là “vua”, và cũng không xác định
con số là bao nhiêu vị. Nhiều bức hoạ cổ thời vẽ hai, bốn, sáu, tám, và thậm
chí có nơi tăng đến số 12 (có lẽ cho cân xứng với 12 chi tộc Israel). Tuy
nhiên, vào thế kỷ III, ông Origène đã nói đến 3 vị, và truyền thuyết này dần
dần lan rộng trở thành phổ thông từ thế kỷ V.
Con
số 3 có ý nghĩa gì không?
Số 3 có thể giải thích vừa theo nghĩa
đo lường toán học, vừa theo nghĩa biểu tượng. Trước tiên là theo nghĩa toán học
. Thánh Matthêu (chương 2 câu 10) nói đến 3 lễ phẩm mà các ông mang đến: vàng,
nhũ hương, mộc dược. Người ta suy đoán rằng nếu có 3 lễ phẩm thì hẳn là phải có
ba người: nếu ít hơn thì cồng kềnh (không lẽ một ông phải vác ba món quà?),
nhiều hơn thì cũng kỳ (chẳng lẽ có người đi tay không!). Theo nghĩa biểu tượng
. Trong Cựu ước, người ta nói đến ba thiếu niên cương quyết không chịu bỏ đạo
mặc dù bị vua Nabucođonosor doạ bắt bỏ trong lò lửa. Ba nhà chiêm tinh của
chúng ta cũng thế: họ can đảm lên đường đi tìm vua dân Do thái, bất chấp những
khó khăn của hành trình, và kể cả nguy cơ bị vua Hêrôđê ám sát.
Thánh
Matthêu nói đến các nhà chiêm tinh, tại sao ba nhà chiêm tinh lại biến thành ba
vua?
Theo các nhà chú giải Kinh thánh, các
nhà “chiêm tinh” không phải là các ông thầy bói đâu, nhưng có thể so sánh như
các nhà thiên văn, và cách riêng ở bên Ba-tư, họ thuộc hàng ngũ tư tế, làm cố
vấn cho nhà vua về y khoa và thiên văn. Truyền thống dân gian gọi họ là “các
vua” bởi vì móc nối với các lễ phẩm được nói ở thánh vịnh 72 câu 10 “Từ Tharsis
và hải đảo xa xăm, hàng vương giả sẽ về triều cống. Cả những vua Ả-rập, Saba,
cũng đều tới tiến dâng lễ vật. Mọi quân vương phủ phục trước bệ rồng, muôn dân
nước thảy đều phụng sự”. Thực ra thánh vịnh 72 nói đến các vua chúa Ả-rập và
Saba đến yết kiến vua Salomon vì khâm phục tài trí khôn ngoan của ông. Nhưng
các Kitô hữu áp dụng cho các vua từ tứ phương đến thờ lạy Chúa Giêsu.
Làm
sao mà có chuyện “tứ phương thiên hạ”, đang khi mà thánh Matthêu chỉ nói đến
những nhà chiêm tinh đến từ phương Đông?
Trong tư tưởng thánh Matthêu, phương
Đông chắc chắn không phải là Trung Hoa Việt Nam, mà chỉ là những nước nằm ở bên
kia bờ sông Giorđanô, và các giáo phụ cho rằng có thể là từ Ba tư hoặc Ả-rập.
Thánh Augustinô đã giải thích các đạo sĩ từ phương Đông như là “hoa trái đầu
mùa của muôn dân sẽ được lãnh ơn cứu độ” ( Sermo 200,1 : PL 38,1028). Nhưng mãi
đến thế kỷ XIII mới phát sinh truyền thống nói đến ba vua tượng trưng cho ba
châu lục Âu, Á, Phi, thuộc ba dòng dõi của ông Noe: Sem, Cam, Japhet (St 10,1).
Từ đó ta thấy ông vua da trắng, da vàng, da đen. Tưởng cũng nên biết là khi mới
khám phá châu Mỹ, người ta cũng muốn thêm một ông vua da đỏ nữa, nhưng tục lệ
này không được phổ biến cho lắm.
Ba
vua không chỉ tượng trưng cho ba châu lục, mà còn có tên riêng nữa phải không?
Đúng thế. Từ thế kỷ VII, ba ông được
đặt tên là Balthasar vua Ấn độ, Melchior vua Ba tư, Gaspar vua Ả-rập. Ta thấy
các tên này không có màu sắc gì của châu Á và châu Phi cả! Chưa hết đâu, lưu
truyền dân gian còn muốn rằng sau khi đã thờ lạy Chúa Giêsu, ba ông trở về Ba
Tư. Về sau khi thánh Tôma tông đồ đi truyền giáo, ngài đã gặp lại ba ông và đã
tấn phong giám mục cho họ, và cử họ đi loan báo Tin mừng. Cả ba được phúc tử
đạo, thi hài được tôn kính ở Ba tư, rồi sau đó chuyển về Milanô (Italia), và từ
cuối thế kỷ XII được hoàng đế Federicô I đem qua nhà thờ chánh toà Colonia
(Đức).
Như
vậy phần lớn chuyện ba vua là do truyền thống dân gian dựng nên. Còn thánh
Matthêu muốn nói gì khi kể chuyện các nhà chiêm tinh đến thờ lạy Chúa?
Thánh Matthêu gói ghém nhiều sứ điệp
trong đoạn Tin mừng mà phụng vụ công bố trong ngày lễ Hiển Linh. Như đã nói,
thánh sử không nói đến các vua đến thờ lạy Hài nhi Giêsu, nhưng là các nhà
chiêm tinh đi tìm thờ lạy Đức Giêsu là vua, như câu hỏi mà các ông đã đặt ra
cho triều đình Hêrôđê: “Đức Vua của dân Do-thái mới sinh, hiện ở đâu? Chúng tôi
đã thấy vì sao bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Ngài”. Các ông đi bái
lạy Đức Giêsu như là Vua. Các giáo phụ giải thích ý nghĩa của 3 phẩm vật dâng
tiến - vàng, hương, mộc dược- như là việc tuyên xưng ba phẩm tính của Người:
vàng vì là vua, hương vì là Thiên Chúa, mộc dược như là con người hay chết. Tuy
nhiên có lẽ thánh Matthêu không đi xa như vậy. Điểm chính mà thánh sử muốn nhắm
tới đó là cho thấy rằng các dân ngoại từ phương xa đã biết nhìn nhận đức Giêsu
là vua Mêsia, đang khi mà dân Do thái thì thờ ơ lãnh đạm, thậm chí còn muốn tìm
cách thủ tiêu Người nữa.
Nhưng
vua Hêrôđê đâu có giết được Chúa Giêsu?
Đúng vậy. Thánh Matthêu cho chúng ta
biết rằng một thiên sứ đã hiện ra báo tin cho ông Giuse, và ông đã đưa Đức Mẹ
và hài nhi Giêsu lánh nạn sang Ai cập. Tuy nhiên, điều xảy ra vào lúc giáng
sinh ra như đã tiên báo số phận tương lai của Đức Giêsu: Ngài sẽ bị dân tộc của
mình tẩy chay (Mt 21,42-43), nhưng các dân ngoại sẽ chấp nhận Tin mừng. Mặt
khác, ra như thánh sử cũng biện minh phần nào thái độ của dân Do thái, đó là sự
hiểu lầm của họ. Vua Hêrôđê nghe nói có một vị vua mới sinh ra, và ông lo ngại
cho ngai báu của mình sẽ bị lung lay. Nhưng Đức Giêsu không phải là Vua theo
nghĩa chính trị đâu. Ngài làm Vua theo nghĩa khác, vua Mêsia.
Làm
sao các nhà chiêm tinh biết được có vua Mêsia giáng trần?
Qua dấu của ngôi sao. Nói cho đúng,
chuyện một ngôi sao lạ như là điềm của một vĩ nhân giáng trần không phải là xa
lạ trong lịch sử các dân tộc. Tuy nhiên, có lẽ thánh sử Matthêu không dựa vào
lịch sử các tôn giáo cho bằng dựa vào chính truyền thống của dân Do thái. Từ
đoạn văn sách Dân số (24,17) nói đến “một ngôi sao sẽ xuất hiện từ nhà Giacóp
và vương trượng từ Israel”, các rabbi đã chú giải trong sách Targum như thế
này: “Một vị vua sẽ chỗi dậy từ nhà Giacóp, và một vị cứu tinh từ nhà Israel”.
Vào thời Tân ước, nhiều người gọi Đấng Mêsia như là ngôi sao nhà Đavít, như
chúng ta thấy vết tích nơi sách Khải huyền chương 22,16. Trong lịch sử Kitô
giáo, đã có nhiều cuộc tranh luận về bản chất của ngôi sao xuất hiện cho các
nhà chiêm tinh: phải chăng đó là một sao chổi, hay một ngôi sao nào khác
thường? Phải chăng ngôi sao trên bầu trời, hay chỉ là ngôi sao trong tâm hồn
của các nhà chiêm tinh (nghĩa là hiểu theo nghĩa bóng)? Thánh sử Matthêu không
nói rõ điều đó, mà chỉ ghi nhận rằng: các nhà chiêm tinh từ phương xa đã nhìn
nhận Đức Giêsu là vị cứu tinh, và họ lên đường đi tìm kiếm để thờ lạy; còn
chính các luật sĩ sống ở Giêrusalem cầm Kinh thánh trên tay, biết rằng Đức
Mêsia sẽ giáng sinh tại Belem, nhưng họ không bận tâm tìm kiếm thờ lạy. Hình
như bài học này vẫn còn giá trị cho cả chúng ta: chúng ta tự hào vì mình đã tin
Chúa, biết Chúa, nhưng chẳng buồn tìm kiếm thờ lạy yêu mến Ngài; đang khi những
người ngoại đạo thì lại gần gũi Chúa hơn bởi vì họ không ngừng tìm chính đạo và
tuân giữ.
Lm. Giuse Phan Tấn Thành, OP (http://daminhvn.net/)

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét