GIÁO XỨ BÀ TRÀ

Cách tính thời gian của người Do Thái


Người Do Thái có 3 loại lịch: Do Thái, Dân Sự và Dương lịch. Lịch Do Thái dùng để tính các ngày đại lễ trong năm: Lễ Vượt Qua, lễ Ngũ Tuần, lễ Lều... Ban đầu, lịch Do Thái dùng cho tất cả các sinh hoạt hàng ngày nhưng sau cuộc chinh phục Giêrusalem của tướng Pompey năm 20, người Do Thái bắt đầu thêm lịch Dân Sự để dùng cho việc nộp thuế và giao dịch với chính phủ. Tháng 1 trong lịch Do Thái tương đương tháng 7 lịch Dân Sự và khoảng đầu tháng 4 Dương lịch.

Giờ: bằng 1/12 khoảng cách giữa mặt trời mọc và lặn.

Canh: bằng 1/4 khoảng cách giữa mặt trời lặn và mọc.

Ngày: bắt nguồn từ trong sách Sáng Thế, là khoảng cách giữa hai buổi hoàng hôn, ngày bắt đầu khi thấy 3 ngôi sao xuất hiện trên bầu trời: “Qua một buổi chiều và một buổi sáng, đó là ngày thứ nhất.” (St 1,5).

Tuần: có chu kỳ 7 ngày. Tên của 6 ngày đầu được gọi theo thứ tự từ 1 đến 6, ngày Thứ Bảy gọi là Sabbath, nghĩa là “nghỉ ngơi”. Sabbath cấm làm việc, dù là thắp đèn, tắt lửa, viết chữ…

Tháng: là chu kỳ của mặt trăng: 29 ngày - 12 giờ - 44 phút - 2,8 giây (29,530588 ngày). Đầu tháng phải là ngày trăng mới nên số ngày trong tháng thường dao động giữa 29 và 30 ngày.

Năm: có từ 353 - 355 ngày. Vì ít hơn Dương lịch 10 - 12 ngày nên cứ 2 hoặc 3 năm, lịch Do Thái có thêm một tháng nhuận và tháng nhuận luôn là tháng Adar (tháng 12).

ĐAMINH BÌNH, MF 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

VIDEO










HAI TIẾNG MẸ ƠI