Trong hiến chế “Vui mừng
và Hy vọng”, Công đồng Vaticanô II đã thúc giục các tín hữu hãy khảo sát dấu
chỉ thời đại. Khảo sát dấu chỉ thời đại là gì? Có phải là đi coi tử vi, bói
toán xem thời vận, như thiên hạ quen làm vào dịp đầu năm hay không?
Từ ngữ “dấu chỉ thời đại” (cũng có
người gọi tắt “thời triệu”, “thời điềm”) có lẽ lúc đầu cũng có liên quan tới
hiện tượng thiên văn thời tiết. Nguồn gốc của nó là lời Chúa Giêsu trách móc
dân Do thái vì thái độ mù quáng của họ, như Phúc âm còn ghi lại ở Mt 16,3 và Lc
12,54-56. Matthêu thuật lại lời của Chúa như sau: “Chiều đến, các ông nói ‘ráng
vàng thì nắng’, rồi sớm mai các ông nói ‘ráng trắng thì mưa’. Cảnh sắc bầu trời
thì các ông biết cắt nghĩa, còn thời điềm thì các ông không cắt
nghĩa nổi.” Chúa Giêsu đi từ những quan sát về thời tiết dựa theo những dấu hiệu
mầu sắc đám mây (những nhận xét tích lũy từ kinh nghiệm của bao thế hệ, nhất là
của giới nông dân) để bước sang một lãnh vực quan trọng hơn, đó là: làm thế nào
để qua những dấu hiệu thời cuộc mà nhận biết sự can thiệp của Thiên Chúa? Nói
cách cụ thể, Chúa Giêsu đã trách những cấp lãnh đạo của dân Do thái vì họ không
biết nhận ra nơi Ngài (qua các lời giảng và việc làm của Ngài) rằng thời cứu độ
đã tới. Họ mù quáng không biết đọc được dấu chỉ thời đại (hay “thời điềm”).
Như
vậy thì việc nhận thức dấu chỉ thời đại chỉ liên hệ tới người Do thái, chứ có
ăn thua đến chúng ta đâu?
Quả thực như vậy, Tân ước đã dùng từ
“dấu chỉ thời đại” (= DCTĐ, hay thời điềm) áp dụng vào người Do thái đương thời
với Chúa Giêsu; DCTĐ được hiểu là những dấu hiệu, những điềm lạ chứng tỏ Đấng
cứu tinh đã xuất hiện ở giữa họ. Có thể nói là suốt gần 20 thế kỷ, thần học
Kitô giáo đã hiểu DCTĐ theo nghĩa đó, hay nói đúng hơn: chẳng ai dùng từ đó cả!
Mãi đến gần đây, nó mới được lưu hành không những trong các sách thần học mà
còn cả trên môi miệng của các tín hữu.
Cha
có thể cho biết: ai đã có sáng kiến (hay trách nhiệm) trong việc khởi xướng
tiếng “dấu chỉ thời đại” không?
Người ta cho rằng người chủ sô là chính
ĐGH Gioan XXIII khi tuyên bố triệu tập công đồng Vaticanô II. Và công đồng đã
tiếp thu tư tưởng của Ngài trong nhiều văn kiện khác nhau, đặc biệt là hiến chế
“Vui mừng và Hy vọng”. Tuy nhiên cũng nên biết là từ 30 năm qua, ý nghĩa của
tiếng DCTĐ có biến đổi không ít. Chúng ta hãy theo dõi sự biến chuyển đó, bắt
đầu từ đức Gioan XXIII. Vào ngày lễ Giáng sinh năm 1961, trong văn thư triệu
tập công đồng, đức Gioan viết: “vâng theo lời Chúa khuyên răn hãy biết phân
biệt DCTĐ, chúng tôi tin rằng giữa bao mây mù đen tối, chúng tôi có thể khám
phá ra rất nhiêu dấu hiệu hy vọng tin tưởng về tương lai của Giáo hội và nhân
loại”. Chúng ta thấy rằng đức Gioan XXIII mở rộng ý nghĩa của tiếng DCTĐ của
Phúc âm, không chỉ áp dụng cho các nhà lãnh đạo Do thái vào thời Chúa Giêsu về
việc nhìn nhận thời của vị cứu tinh đã đến với họ, nhưng có thể áp dụng cho hết
mọi thế hệ của nhân loại. Đặc biệt, việc khám phá DCTĐ là một trách vụ của các
nhà lãnh đạo Giáo hội. Hơn thế nữa, khi nói về DCTĐ, đức Gioan XXIII hiểu là
những dấu chỉ lạc quan hy vọng, hay nói nôm na là: điềm may, điềm tốt mang lại
hy vọng và tin tưởng cho tương lai. Trong bài diễn văn khai mạc công đồng ngày
11-10-1962, Đức Gioan XXIII còn lặp lại tư tưởng đó. Ngài nói rằng vào thời hôm
nay, có những nhà tiên tri chỉ biết loan báo điềm gở, sa đoạ, tựa như tận thế
đã gần kề; nhưng người Kitô hữu cần phải sử dụng đến tiềm năng tinh thần của
mình để nhìn nhận ra những dấu hiệu tích cực do tác động của Chúa Thánh Thần.
Trong thông điệp Pacem in Terris, viết mấy tháng trước khi qua đời, đức Gioan
XXIII đã liệt kê ra vài dấu hiệu ấy, để chứng tỏ cho thấy thế giới mà chúng ta
đang sống mang theo rất nhiều giá trị tích cực, chứ không phải chỉ có mang
những dấu vết của tội lỗi sa đoạ. Được tiêm nhiễm bởi tinh thần lạc quan của
đức Gioan XXIII, công đồng Vaticanô II đã du nhập từ DCTĐ trong nhiều văn kiện,
và từ đó được hiểu theo nghĩa tích cực. Vài thí dụ: ý thức về phẩm giá con
người (tuyên ngôn về tự do tín ngưỡng số 15); lòng khao khát tiến tới sự hợp
nhất các Kitô hữu (sắc lệnh về đại kết số 4); và nhất là trong hiến chế “Vui
mừng và Hy vọng”, chúng ta đọc thấy nhiều đoạn văn nói tới DCTĐ (số 4,11,44),
trong đó không những công đồng cố gắng khám phá ra những dấu chỉ của thời đại
(thí dụ ở số 26 về nhân quyền), nhưng còn đề ra những tiêu chuẩn để mà nhận
định phê phán chúng nữa.
Thế thì
DCTĐ là cái gì?
Như đã nói trên đây, ở Việt Nam có
người gọi là “thời triệu” hay “thời điềm”. Có lẽ tiếng “thời điềm” dễ hiểu hơn
cả: “thời” ám chỉ về thời cuộc, một biến cố lịch sử; biến cố đó trở thành một
“điềm”, một dấu hiệu cho thấy sự hiện diện và can thiệp của Thiên Chúa. Khái
niệm DCTĐ (hay “thời điềm”) bao hàm rất nhiều quan điểm thần học trong đó. 1)
Tiên vàn, nó giả thiết rằng dòng lịch sử không phải chỉ là một chuỗi những biến
cố ngẫu nhiên. Không phải như vậy; chúng ta tin rằng dòng lịch sử này diễn ra
theo một kế hoạch của Chúa quan phòng. 2) Thứ đến, những biến cố lịch sử mang
một ý nghĩa cho người tín hữu: nó có thể trở thành một dấu hiệu của sự hiện
diện của Thiên Chúa giữa thời đại chúng ta đang sống. Thiên Chúa không những
điều khiển dòng lịch sử một cách tổng quát, nhưng đôi khi còn biểu lộ sự can
thiệp một cách cụ thể qua vài biến cố. 3) Một giả thiết thứ ba là Giáo hội cố
gắng tìm hiểu đường lối của Chúa không những qua việc truy tầm Sách Thánh (Lời
Chúa) nhưng còn qua việc khảo sát các DCTĐ, các thời điềm. 4) Từ đó, có thể
thêm giả thiết thứ tư nữa, đó là Giáo hội không phải lúc nào cũng nắm sẵn trong
tay hết mọi lý lẽ của chân lý; nhưng Giáo hội cũng cần phải khiêm tốn lắng nghe
tìm hiểu chân lý qua các biến cố lịch sử, lắm lần do những người ở ngoài Giáo
hội gây ra, và Chúa Thánh Thần có thể dùng chúng để dạy dỗ Giáo hội. Hậu nhiên,
Giáo hội cần đối thoại với thời đại, để cùng nhau khám phá chân lý.
Làm sao
khám phá ra dấu chỉ thời đại?
Đây là cả một vấn đề. Dĩ nhiên, chúng
ta sẽ không đi hỏi các nhà chiêm tinh bói toán để mà khám phá các DCTĐ. Trên
đây, chúng ta thấy xem ra là đức Gioan XXIII coi việc khám phá các DCTĐ như là
một trách vụ của các nhà lãnh đạo Giáo hội. Tuy nhiên, công đồng Vaticanô II
coi việc nhận định các DCTĐ là một trách vụ của toàn thể Dân Chúa, mặc dù các
mục tử giữ vai trò điều động hướng dẫn. Chúng ta có thể đọc thấy giáo huấn công
đồng trong Hiến chế Vui mừng và Hy vọng số 11 và 44. Đó là nói trên nguyên tắc.
Khi đi vào cụ thể, chúng ta sẽ thấy vấn đề trở nên rất là phức tạp. Thứ nhất,
cái biến cố nào quan trọng và mang tính cách dấu chỉ? Thực vậy, hằng ngày khi
cầm tờ báo hay bật rađiô, chúng ta đọc hay nghe biết rất nhiều biến cố: nhưng
chắc không phải là tất cả đều quan trọng như nhau và có ý nghĩa như nhau. Các ông
chủ báo xếp những tin quan trọng ở trang đầu, còn những tin xe cán chó thì để ở
góc cuối của trang chót. Dĩ nhiên, tiêu chuẩn xếp tin cũng tùy theo khuynh
hướng của mỗi tờ báo: các tờ báo chính trị thì coi các tin chính trị mới là
đáng kể; trong khi các tờ báo văn học và kinh tế thì lại có tiêu chuẩn khác. Dù
sao, không phải bất cứ bản tin nào xảy ra hằng ngày cũng đáng gọi là biến cố:
một sự kiện chỉ đáng gọi là biến cố khi nó đánh dấu một giai đoạn của lịch sử;
và đôi khi phải chờ cả một chuỗi sự kiện liên tiếp nhau mới tạo ra một biến cố
được. Ngoài việc thẩm định biến cố nào là quan trọng đối với dòng lịch sử, cần
phải tiến lên bước thứ hai là giải thích cái ý nghĩa của nó. Một biến cố có thể
mang ý nghĩa khác nhau đối với những quan sát viên khác nhau. Chúng ta có thể
lấy một thí dụ cụ thể: bức tường Bá linh đổ. Tại sao nó đổ? Có thể một bác thợ
nề cho rằng vì hồi xây nó, người ta cho nhiều cát mà ít xi măng. Một chuyên
viên kinh tế thì có thể giải thích rằng vì dân Đông Đức muốn tràn qua Tây Đức
để kiếm thêm mặt hàng tiêu thụ. Đức Gioan Phaolô II thì có lối giải thích riêng
trong thông điệp Centesimus Annus (số 21-22). Dù sao, thì một biến cố trở thành
DCTĐ với người tín hữu vì nó là một điềm về sự can thiệp của Thiên Chúa. Nói
khác đi, người tín hữu phân tích một biến cố lịch sử dưới ánh sáng đức tin.
Thực vậy chỉ có người sống đức tin sâu đậm, đã quen thuộc với Thiên Chúa thì
mới có thể nhận ra tiếng nói và đường lối của Ngài qua các biến cố lịch sử.
Thoạt tiên, xem ra nhận xét này rất đơn giản, nhưng thực tế thì phức tạp hơn
nhiều, bởi lẽ không thiếu lần, chúng ta mắc bệnh chủ quan, chỉ muốn nhìn thấy
bàn tay của Chúa qua những biến cố thuận lợi cho mình, hoặc những biến cố do
Giáo hội tạo ra. Ít có người dám nhận ra DCTĐ cả nơi những biến cố bất lợi cho
Giáo hội, hoặc là do những người ngoài Công giáo gây ra. Từ đó cái nhìn của
chúng ta dễ mang tính chất bi quan, chỉ nhận thấy tội lỗi sa đoạ chung quanh
mình. Đức Gioan XXIII đã vạch ra một chiều hướng mới, khi nhận thấy tác động
của Chúa Thánh Thần kể cả nơi những trào lưu ở ngoài Giáo hội, và nơi những
biến cố thoạt tiên xem ra bất lợi cho Giáo hội nhưng thực tế đã giúp cho Giáo
hội được thanh luyện và trở về sát với Tin mừng hơn. Thiết tưởng quan điểm của
đức Gioan XXIII về DCTĐ đã và sẽ tạo cho các tín hữu một niềm tin tưởng rất lớn
khi nhìn về tương lai: tuy dù thế giới này mang nhiều vết tích của sa đọa và
tội lỗi, nhưng không thiếu những dấu vết của tình yêu Thiên Chúa, bộc lộ cả nơi
những người thành tâm thiện chí tuy họ không phải là phần tử của Giáo hội.
Lm Giuse Phan Tấn Thành, OP.
(http://daminhvn.net)

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét