Luật Giáo hội buộc tín hữu phải ăn chay kiêng thịt.
Nhưng mà tại sao phải kiêng thịt? Tại sao phải kiêng thịt mà không kiêng cá,
kiêng trứng hay kiêng trái cây? Ăn thịt có gì xấu không?
Trước hết, nên lưu ý tới việc sử dụng từ ngữ. Tiếng “ăn chay
kiêng thịt” gợi lên cho chúng ta hai điều: một điều cấm (kiêng) và một điều
khuyến khích. Điều cấm là kiêng thịt; điều khuyến khích là ăn chay. Chắc chị đã
biết rằng ở Việt Nam có vài tôn giáo đã hiểu như vậy: ăn chay có nghĩa là ăn đồ
chay, những đồ lạt, không mặn. Còn đối với Kitô giáo, ăn chay có nghĩa là kiêng
ăn. Như thế, ngoài chuyện kiêng thịt lại còn thêm chuyện kiêng ăn nữa. Vì vậy
nếu muốn diễn tả cho đúng tư tưởng thì thay vì nói “ăn chay kiêng thịt”, chúng
ta phải nói “kiêng ăn kiêng thịt” hoặc là “chay ăn chay thịt”! Nếu đặt lại vấn
đề như vậy thì câu hỏi “tại sao phải kiêng thịt” đã được giải quyết một phần
rồi, nghĩa là chúng ta kiêng thịt không phải tại vì thịt nó xấu xa, cũng như
chúng ta kiêng ăn không phải tại vì sự ăn uống xấu xa: sự ăn uống cần thiết cho
sự sống; nếu ai tuyệt thực hoàn toàn thì sẽ sớm qua bên kia thế giới.
Chúng ta kiêng thịt
không phải vì nó xấu; thế thì tại sao lại chỉ kiêng thịt mà không kiêng luôn cả
cá nữa?
Vấn đề kiêng thịt không phải là cái gì riêng của Kitô giáo.
Nó đã có một truyền thống lâu đời ở các tôn giáo trên thế giới, tuy với những
lý do và động lực khác nhau. Chẳng hạn như các tín đồ Phật giáo kiêng thịt bởi
vì họ tin vào thuyết luân hồi: khi giết các súc vật, biết đâu ta đã giết chính
ông bà của mình bị phạt đầu thai làm kiếp súc vật. Dĩ nhiên, Kitô giáo đã đặt
ra kỷ luật kiêng thịt không phải tại vì tin theo thuyết luân hồi nhưng dựa theo
một động lực khác. Trong Cựu ước, ta đã thấy có những luật về kiêng thịt với những
chi tiết khá phức tạp, thí dụ trong chương 11 của sách Lê vi, phân biệt những
thú vật ô uế với vật tinh tuyền.
Tại sao lại có sự phân
biệt giữa các thú vật tinh tuyền với thú vật ô uế?
Các nhà chú giải Kinh thánh không trả lời được. Có lẽ tác giả
của sách Lêvi đã lấy lại một tập tục có từ xa xưa mà không còn ai nhớ rõ gốc
gác. Cho dù lý do phân loại thế nào đi chăng nữa, đến khi bước sang Tân ước, ta
thấy có những cuộc cách mạng quan trọng. Chúa Giêsu đã xóa bỏ sự phân biệt giữa
các vật tinh tuyền và vật ô uế. Sự tinh tuyền và ô uế nằm ở trong lòng của mình
chứ thú vật chẳng có tội tình chi cả (Mc 7,15). Tuy nhiên, xem ra các Kitô hữu
tiên khởi (phần lớn gốc Do thái) không thể thay đổi não trạng nhanh chóng, thí
dụ như ở chương 10 của sách Tông đồ công vụ, ta thấy thánh Phêrô còn sợ chưa
dám ăn một vài thứ chim trời đã bị xếp vào hàng ô uế; lật qua chương 15 (câu 20
và 29) ta còn thấy thánh Giacôbê muốn đòi buộc các tín hữu tân tòng phải kiêng
tránh vài thức ăn. Nhưng thánh Phaolô đi mạnh mẽ hơn, nhất là vì ngài để ý tới
dân ngoại hơn là tới dân Do thái. Thực vậy, thánh Phaolô chấp nhận hoàn toàn
giáo lý của đức Kitô, theo đó chẳng có lương thực nào là ô uế hết. Nhưng có một
vấn đề được đặt ra là có được ăn đồ cúng hay không? Trong thư gửi Rôma 14,14-16
thánh Phaolô đã phân biệt như thế này: tự nó, đồ cúng hay đồ không cúng chẳng
có gì khác nhau, cho nên các tín hữu không phải kiêng cữ. Tuy nhiên, nếu có
người non nớt bị vấp phạm vì việc người tín hữu ăn đồ cúng, thì mình phải
tránh. Nói khác đi, mình kiêng ăn đồ cúng không phải tại vì nó là đồ ô uế nhưng
mà mình phải tránh gây gương xấu cho người anh em mình; đây là một bổn phận
thuộc giới răn bác ái yêu thương.
Như vậy, thánh Phaolô
khuyến khích chúng ta cứ tha hồ ăn uống, phải không?
Thánh Phaolô không bao giờ xúi các tín hữu ăn uống say sưa;
trái lại, ngài đã hơn một lần khiển trách những người lấy cái bụng làm chúa.
Thánh Phaolô chỉ muốn huấn luyện lương tâm của các tín hữu, hãy tìm hiểu cái lý
do của các luật lệ, chứ không phải chỉ giữ luật lệ cách máy móc. Tất cả các
lương thực đều tốt bởi vì do Chúa dựng nên cho con người. Chúng ta hãy hưởng
dụng để ngợi khen Ngài. Việc ăn uống có thể trở thành cơ hội để chúc tụng tạ ơn
Chúa như chúng ta đọc thấy ở thư gửi Rôma 14,6. Tuy nhiên, cần có chừng mực.
Hơn thế nữa, thánh Phaolô khuyến khích các tín hữu hãy tiến thêm một bước nữa,
biết hy sinh cả những cái gì được phép làm: việc kiêng cữ những điều tốt nằm
trong chương trình thao luyện tinh thần giống như các lực sĩ tập luyện ở thao trường
(1Cr 9,27), nhất là để hoạ theo gương của đức Kitô chịu thụ nạn trên thập giá
vì yêu thương chúng ta.
Nhưng nếu đã muốn
kiêng khem lương thực thì kiêng hết các món, chứ sao lại chỉ kiêng thịt?
Như tôi đã nói ở đầu, trong Việt ngữ, vì đã quá quen với
thành ngữ “ăn chay kiêng thịt” cho nên chúng ta chỉ giới hạn sự kiêng vào
chuyện ăn thịt. Vấn đề kiêng cữ bao hàm việc kiềm chế hết những gì đem lại thỏa
mãn thích thú, nhằm giúp cho ý chí chế ngự được bản năng. Theo một vài sử gia,
trong những thế kỷ đầu tiên, Giáo hội phải mệt với những phe khắc khổ hơn là
với phe phóng túng. Phe khắc khổ đòi Giáo hội phải ra luật buộc tất cả các tín
hữu phải giữ chay. Nhưng mà Giáo hội đâu có thể bắt hết mọi người phải trở
thành nhà khổ tu được. Mặt khác, trong số các vị khổ tu thời đó, không thiếu
những người chịu ảnh hưởng của thuyết ngộ giáo, coi xác thịt và hôn nhân là tội
lỗi. Dù sao, việc khổ chế vào những thế kỷ đầu hoàn toàn mang tính cách tự
nguyện. Nếu có luật lệ thì cũng chỉ giới hạn cho từng địa phương chứ không bao
trùm toàn thể Giáo hội. Việc kiêng khem tuyệt đối thường được dành cho ngày thứ
6 tuần thánh, rồi dần dần kéo dài ra các ngày thứ 6 hằng tuần. Nhưng mà dần dần
kỷ luật kiêng khem tuyệt đối (chay ăn) được gia giảm bởi vì nhiều tín hữu phải
làm việc lao động nặng nhọc, cần ăn uống để lấy sức. Mức độ châm chế được thay
đổi tùy vùng tùy nơi. Bên Trung đông, người ta kiêng cả sữa, bơ, trứng; nhưng
mà bên Tây phương, người ta chỉ đòi kiêng thịt. Từ thời Trung cổ, sự khổ chế tự
nguyện biến thành khổ chế bắt buộc, nghĩa là trở thành luật buộc. Ngoài ra việc
chay tịnh cũng là một hình phạt đền tội dành cho những hối nhân. Việc soạn thảo
một bản văn pháp lý đòi hỏi phải xác định tỉ mỉ các chi tiết của nghĩa vụ. Hậu
quả là người ta trở lại với não trạng của các luật sĩ vào thời Chúa Giêsu, với
đủ thứ vấn nạn được nêu lên: luật kiêng thịt buộc phải kiêng những thứ gì? Có
phải kiêng mỡ heo, kiêng sữa bò, tiết canh hay không? Các giống động vật nào
phải kiêng: máu nóng hay máu lạnh? thú vật trên bộ hay là dưới nước? Ngan,
ngỗng, vịt, lươn, rùa, sò ốc nhái có phải kiêng không? Các chuyên gia về luân
lý tha hồ mà nghiên cứu tranh luận về các loại thịt. Tiếc rằng người ta đã mất
đi cái động lực của nó là tinh thần khổ chế lúc đầu. Vì thế có cảnh ngược đời
là có người mong tới ngày thứ 6 để có dịp đi ăn ở nhà hàng thủy sản thập cẩm.
Đối lại là cái cảnh chảy nước mắt của bao dân nghèo phải chi tiền nhiều hơn vào
ngày thứ 6, khi mà cá mắc hơn thịt.
Giáo luật ngày nay vẫn
giữ nguyên tình trạng như vậy chứ?
Bộ giáo luật hiện hành vẫn còn duy trì luật kiêng thịt, tuy
nhiên với một tinh thần mới của công đồng Vaticanô II mà đức Phaolô VI đã muốn
tiêm nhiễm với tông hiến Poenitemini (17/2/1966).
Tinh thần đó có thể tóm lại 3 điểm sau: Tiên vàn là phải kiêng những gì xấu xa,
tức là kiêng phạm tội; nói khác đi việc chay ăn chay thịt phải được lồng trong
tinh thần thống hối cải hoán. Ngoài sự kiêng cái xấu, chúng ta hãy gắng tiến
thêm một bước để kiêng cả cái tốt: sự kiêng cái tốt cũng nằm trong tinh thần
đền tội và tu đức, để tập kiềm chế những đòi hỏi của bản năng dục vọng. Dưới
khía cạnh này, lãnh vực kiêng khem rất là rộng: từ kiêng ăn uống cho tới kiêng
thuốc lá, tivi, các thứ tiêu khiển giải trí, các thứ tiêu pha hoang phí. Bước
thứ ba nữa là ngoài tính cách tiêu cực (kiêng lánh) cần thêm tính cách tích
cực: nhịn ăn nhịn mặc để lấy tiền giúp đỡ người nghèo, tỏ tình tương trợ với
người thiếu ăn thiếu mặc. Đó là cái động lực của việc kiêng khem. Các Hội đồng
Giám mục sẽ tùy theo hoàn cảnh của mỗi địa phương mà đề ra những hình thái cụ
thể trong việc áp dụng luật ăn chay kiêng thịt chiếu theo đ.1251 và 1253 của bộ
giáo luật.
Lm. Phan Tấn Thành, O.P.
(Nguồn: http://daminhvn.net)

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét